4 lượt xem

Duy ngã độc tôn nghĩa là gì? | Thiennhan

Độc thân nghĩa là gì?

Hình ảnh Đức Phật như một đứa trẻ sơ sinh đi trên 7 bông sen và phương châm “Trời và đất, một và duy nhất”Thường xuất hiện vào ngày lễ Phật đản. Biểu hiện này được coi là bình thường đạo Phật. Tuy nhiên, khi nhìn vào Kinh điển, phần lớn Kinh điển Trung Quốc rất ít (hoặc không) được sử dụng “Cô đơn và duy nhất” – 唯我獨尊 ”mà hầu hết là“ chỉ cho chính anh ta – Ton – 唯 我 為 尊 ”, ví dụ:

1) Trong Kinh Tự Bản Khởi, Q1 – TTC, T3, trang 463C có chép bài kệ Phật đản như sau:

“Trên trời dưới trời, một mình ta tôn vinh đạo // Ba bể khổ, hồn bình yên”. – nghĩa là: Trên trời dưới trời, chỉ có bậc giác ngộ mới là quý // Cả ba cõi đều khổ, giác ngộ mới khiến chúng sinh được an lạc.

2) Trong Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, q1, ĐTTT, T3, tr. 473C, là một bản sao của câu này dành riêng cho ngày lễ Phật đản:

“Thiên lương, duy ngã độc tôn. Tam giới khó khăn, cơ hội cường giả? – nghĩa là: Trên trời dưới trời chỉ có đấng giác ngộ mới là quý // Cả ba cõi đều đau khổ, ai có thể đem lại bình an?

3) Trong Kinh Tiền Đại Bản Duyên – Trường A Hàm Q1 có chép bài kệ đại lễ Phật đản như sau:

“Trên trời dưới đất, duy nhất tự tôn // Yếu sinh, lão bệnh, tử của chúng sinh Kim Ngưu” – nghĩa là: Trên trời, dưới trời, chỉ có cây đèn là quý // Điều cốt yếu là giúp chúng sinh chủ động lúc sinh, lão, bệnh, tử.

chỉ có
Hình ảnh Đức Phật mới sinh đang đi trên 7 cánh hoa sen và hướng lên trời

4) Theo Kinh Trường A Hàm I: “Thiên thượng tại thiên, duy ngã độc tôn, nhược chúng sinh, sinh, lão, bệnh, tử” (Trên trời dưới đất, chỉ có ta là quý, là quan trọng nhất. vật là “của ta”. là sự giải thoát chúng sinh khỏi sanh, lão, bệnh, tử – Nhân duyên của Kinh Đại xứ).

5) Kinh Thực Hành Điểm Đạo ghi: “Trên trời chỉ có một trời. Tam giới khổ, an hồn ”(Trên trời dưới trời, chỉ có ta là quý giá nhất. Cả ba cõi chịu khổ, ta sẽ làm cho chúng sinh được vui – Đại Chính Tân Tự – Đại Chính Tân Tử) [ĐCTT]T3, tr.463C) (Vấn đáp Phật pháp (PPBV) – Tập II).

6) Kinh Thái Tử Thụy Ứng Ban Khởi Thượng nói: “Trời đất tự tại. Tam giới khó khăn, cơ hội cường giả? (Trên trời dưới trời chỉ có một mình ta thân yêu nhất. Ba cõi đều đau khổ, ai có thể đem lại bình yên? – CBT, T3, tr.473C) (PPBV – Tập II).

7) Kinh Dị Bồ Tát Mở đầu truyện: “Trời, thế gian tôn giả” (Trên trời dưới đất không có ai cao quý như ta – ĐTC, T3, tr.618A) (PPBV – Quyển II).

8) Kinh Quá khứ, Hiện tại, Nhân quả: “Bản ngã nhất thiết vô thượng, tối thượng, tối cao, tối thượng. Vô lượng sinh tử thưởng vui ”(Ta đối với tất cả chư thiên và loài người là đấng tối cao vô thượng. Vô lượng sinh tử luân hồi – ĐTC, T3, tr.625A) (PPBV – Tập II).

9) Kinh Phật quyển Hạnh: “Thế gian là trung gian, bản ngã là cao nhất. “Tôi đang ở đẳng cấp cao nhất thế giới. Từ nay về sau sinh lão bệnh tử – ĐTT, T3, tr.687B) (PPBV – Quyển II).

Qua các đoạn kinh được trích dẫn, chúng ta hiểu rằng chữ “Ta” trong các ngữ cảnh trên đều có nghĩa là Phật (Ta = Ngã = Phật). Từ trước đến nay, thuyết duy ngã đã được giải thích nhiều lần, nhưng đều không thỏa đáng. Cụm từ “chủ nghĩa đơn ngữ duy nhất” nhằm làm giảm một ý nghĩa triết học nào đó hơn là giá trị lịch sử.

Câu chuyện cho thấy khi sinh ra Thái tử Siddhattha chưa chắc đã đi tu, vì Asita đã tiên tri rằng hoàng tử phải chọn hai con đường: “Thay đổi cuộc đời. Thánh Vương; xuất gia thành Phật ”.

Duy-nga-doc-ton-nghia-la-gi-9
Tượng Phật đản sinh

Vì vậy, có thể thấy, thực tế Hoàng tử được sinh ra bình thường như bao đứa trẻ khác nên khi sinh ra sẽ không thể nói được. Vì vậy, chúng ta có thể hỏi, tại sao câu đó được nhắc đến trong kinh? Từ thời đại nào? Điều đó có nghĩa là gì? Cũng có câu hỏi về sự mâu thuẫn giữa lịch sử Phật giáo và triết học. Tác giả cho rằng có thể thêm câu “Duy nhất và duy nhất” trong các trường hợp sau:

– Một là sau sự kiện trọng đại Phật thành đạo mà người đương thời vinh dự thêu dệt nên sự kiện trọng đại đó;

– Hai là sau khi Phật nhập niết bàn, các đệ tử đã thêm vào kinh điển để củng cố nhân cách của bậc vĩ nhân phải khác người trên trần gian;

-Ba là, tư tưởng Đại thừa đạt đến trình độ cao, đưa ra triết lý Phật tính là bình đẳng trong tất cả chúng sinh. Tác giả coi nghĩa thứ ba là nổi bật nhất trong câu “Cô đơn và độc nhất vô nhị”.

Nhưng đến khi Phật giáo Đại thừa phát triển, các vấn đề được mở rộng hơn: vô ngã không phải là cứu cánh, không phải là mục tiêu cuối cùng. Theo quan niệm Đại thừa, vô ngã không thực sự là niết bàn, vô ngã chỉ là điều kiện quan trọng để đạt được Niết bàn. Kinh Niết bàn của Đại Bát nhã nói rằng Vĩnh hằng – Cực lạc – Tự tại – Thanh tịnh mới là ý nghĩa đích thực của Niết bàn. Vì vậy, cái được gọi là Cái Tôi phải đáp ứng các yếu tố sau: Chủ yếu là bất biến, không do các yếu tố khác để tồn tại, tự chủ, vượt lên trên những điều ngược lại. Vô ngã không tồn tại nếu không có sự tồn tại huyền diệu, không có tác dụng.

Kinh Đại Bát nhã nói: “Vô ngã là sanh tử, ngã là Như Lai tạng”. Vì vô ngã là tiền đề của Niết bàn, chúng ta phải vượt qua khái niệm ‘vô ngã’, phá vỡ bức màn của ‘vô ngã’, thì chúng ta mới thực sự đạt được giải thoát cuối cùng là Niết bàn. Đây là một ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích cụm từ “Single and Unique”.

Từ đó bạn có thể thấy chỉ mình tôi có nhiều nghĩa:

Ngày thứ nhất/ Chỉ mùa thu Chỉ có giác ngộ bởi vì giác ngộ là Phật. Đây là vinh dự lớn nhất trong cuộc đời;

2 / Chỉ mùa thu chỉ có bản ngã thực sự, là một tồn tại huyền diệu, tức là khi đạt tới chân không tối thượng;

3 / Chỉ mùa thu rằng trong mỗi chúng ta chỉ có Phật tính là “quý nhất” vì chúng sinh nào cũng có Phật tính và sẽ thành Phật;

4/ Chỉ mùa thu là bản thể vĩnh viễn của pháp thân, ba đời chư Phật và tất cả chúng sinh. Về điều này, Chương Ái của Kinh Đại Bát Niết Bàn đã than thở, Đức Phật tuyên bố: “Ta” là chân nghĩa của Phật, “thường” là nghĩa chân thật của Pháp thân, “phúc” là nghĩa chân thật của Niết bàn. . Bàn “Thanh tịnh” là chân nghĩa của Phật pháp.