10 lượt xem

Phân tích bài Kiều ở lầu Ngưng Bích – một trích đoạn cực hay trong tác phẩm Truyền Kiều | Thiennhan

Khai mạc

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du được coi là một tác phẩm lớn và quan trọng của nền văn học Việt Nam. Đoạn “Phong lầu Ngưng Bích” thể hiện tâm tư, nỗi lòng của Thúy Kiều khi bị lừa bán vào quán bar. Phân tích bài Kiều ở lầu Ngưng Bích ta thấy được tình yêu quê hương, gia đình và niềm khao khát tự do, đoàn tụ của nhân vật chính khi phải xa quê hương tha hương nhiều năm.

thân hình

  • Khái quát về tác giả, tác phẩm

Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của đất nước, với nhiều tác phẩm đóng vai trò quan trọng trong dòng thơ Việt Nam. Thơ ông luôn chan chứa tình cảm, sự thấu hiểu và yêu thương con người, nhất là những số phận đặc biệt. Thân phận người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng “xui xẻo” là đề tài mà tác giả gửi gắm nhiều tâm tư, tình cảm nhất. Trong đó có “Truyện Kiều”.

Phân tích đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích
Nguyễn Du

Đoạn văn “Trên lầu của Kiều Ngưng Bích” được đưa vào phần Gia biến và lang bạt của tác phẩm, gồm 22 dòng. Đây là đoạn thơ thể hiện rõ nhất nỗi lòng của Kiều lúc bị lừa bán vào nhà thanh. Từ đây cho thấy vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách đáng trân trọng của nhân vật trước những hoàn cảnh éo le, éo le trong cuộc sống.

  • Luận điểm 1: Cảnh lầu tự nhiên Ngưng Bích

Nguyễn Du luôn là người tinh tế, thơ ông không bao giờ tìm cách miêu tả trực tiếp một chủ đề nào đó mà thường thông qua sự biến đổi của không gian và thời gian. Trong đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, tác giả miêu tả thiên nhiên xung quanh để gián tiếp nói về tâm trạng con người:

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ đẹp của trăng xa và trăng gần nhau

Bốn phương xa rộng

Cồn cát vàng, bụi hồng, ngoài kia muôn dặm.

Không gian ở đây dường như vô cùng rộng lớn với những hình ảnh như “xa xa”, “trăng gần”. Ông đề cao sự bao la, vô tận của không gian. Kết quả là con người vốn đã nhỏ bé lại càng cô đơn, lẻ loi hơn. Đắm mình trong khung cảnh thiên nhiên tiêu điều ấy, Kiều đã “xa vắng” thể hiện tâm trạng bâng khuâng, như đang chờ đợi một điều gì đó. Cái không gian rộng lớn ấy dường như “nuốt chửng” con người nên nhân vật trở nên cô đơn vô cùng.

Qua không gian ấy, từ “xuân tuất” khiến Thúy Kiều nhận ra mình không còn trẻ nữa, không còn sức sống thanh xuân từ khi bước vào chốn tăm tối đau khổ. Đây là sự tiếc nuối cay đắng của một cô gái tài năng mà kém may mắn.

  • Luận điểm 2: Tâm trạng Thúy Kiều

Phân tích Bài Kiều Lầu Ngưng Bích Lí Người ta thường nói “Khi buồn người ta chẳng vui bao giờ”. Đứng trước thiên nhiên bao la, hãi hùng ấy, Kiều cũng có những tâm trạng riêng:

Xấu hổ mây sớm đêm khuya,

Nửa yêu nửa sân khấu như sẻ chia tấm lòng.

Từ “nhục” gợi nỗi xấu hổ của nhân vật. Có lẽ bây giờ, trước thiên nhiên, Kiều không thể dối lòng mà quên đi hoàn cảnh của mình. Cô ấy dường như đang nghi ngờ chính mình, chán nản và rất buồn. Tại sao, tại sao cô phải sống một cuộc đời khốn khổ, lang thang như vậy? Không ai có thể trả lời cô gái này. Một loại chỉ có thể “chung lòng” với thiên nhiên.

Phan-tich-bai-kieu-o-lau-ngung-bich-than-bai.jpgKhông gian rộng lớn, rùng rợn trên lầu ở Ngõa Bích

  • Luận điểm 3: Nỗi nhớ Kiều

Sau nỗi đau riêng, Kiều khơi dậy nỗi nhớ nhung người thân. Nguyễn Du thật tài tình khi chỉ miêu tả cảm xúc riêng của Kiều trong hai dòng ngắn ngủi. Cô gái ấy dù trong hoàn cảnh khó khăn cũng buông xuôi tất cả, chỉ dám than vãn vài câu rồi dốc lòng lo cho gia đình, họ hàng.

Hơn hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng và lời thề năm xưa:

“Tôi nghĩ về người đàn ông dưới trăng và chiếc cốc đồng

Tin tức mơ hồ đang chờ đợi vào ngày mai”

Kiều bồi hồi, nhớ về kỉ niệm xưa. Đó là đêm thề nguyền dưới trăng, và “chén đồng” là chén rượu của hai người. “Chén đồng” ấy chính là sự đồng lòng mà nàng và Kim Trọng đã uống dưới ánh trăng. Lời thề ấy đã được trời đất xác nhận, nhưng sao nàng không thành mà vẫn phải chia phôi? Kiều nhớ đến Kim Trọng và tưởng tượng ở chốn Liễu Đường xa xôi ấy, có thể chàng chưa biết rằng nàng đã phải bán mình chuộc cha. Và có lẽ anh vẫn chờ đợi tin tức từ cô. Kiều cảm thấy áy náy, tự vấn lương tâm:

“Ở góc bể cô đơn,

Con trai giặt giũ không bao giờ phai”

Phân tích bài Kiều ở lầu Ngưng Bích cho thấy tấm lòng thủy chung với mối tình đầu của nàng sẽ được “tẩy rửa” trong bao lâu? Và cô chỉ có thể ở lại “một góc trời và bơ vơ”, gửi nỗi nhớ theo gió cho người mình yêu. Nỗi nhớ ấy trở nên đau đớn, nhức nhối, nhói trong tim.

Nghĩ đến người yêu, Kiều lại nhớ đến cha mẹ ở quê. Nhớ Kim, nàng chỉ “nghĩ” nhớ đến mẹ cha, nàng lại “xin lỗi”:

“Thương tiếc ở cửa ngày mai,

Quạt lạnh ủ nồng ai bây giờ?

Để sân cách nắng mưa vài bước chân,

Đôi khi gốc rễ của cái chết chỉ đơn giản là được mọi người nắm lấy.”

Cô chạnh lòng khi nghĩ đến cha mẹ già, bệnh tật nhưng hàng ngày vẫn tựa cửa chờ tin cô, đợi cô trở về dù vô vọng. Nguyễn Du đã dùng thành ngữ “quạt ấm lạnh” và ví von “San Lai” để nói đến lòng hiếu thảo của Thúy Kiều. Cô nhớ cha, thương mẹ, hình dung quê hương đã thay đổi như thế nào, cha mẹ già yếu không ai phụng dưỡng. Làm thế nào trái tim của một đứa trẻ có thể được bảo đảm?

Cụm từ “mấy ngày hết mưa nắng” có nghĩa là một thời gian dài. Sau bao nhiêu mùa mưa nắng, cô không còn đếm được nữa, quãng thời gian xa nhà là nỗi đau không nguôi của cha mẹ. Khi nhớ về cha mẹ, cô luôn nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục, “chín chữ cao sâu ghi nhớ”. Dù đi đến đâu, trong hoàn cảnh éo le nào, Kiều vẫn là người con trung nghĩa, vị tha. Cô ấy luôn nghĩ cho người khác trước khi cảm thấy tiếc cho bản thân mình.

Ở đây, Kiều nhớ người yêu trước nhớ cha mẹ là có lý riêng. Ghép hai chữ hiếu và chữ hiếu, Kiều đã tạm dung mình về chữ hiếu. Vì bán mình chuộc cha, nàng đã phần nào tròn đạo làm con, đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của mình. Về phần Kim Trọng, trước khi về Liêu Dương chịu tang chú, chàng đã đặt nhiều hy vọng vào Kiều. Nhưng giờ thân Kiều đã nhơ nhớp nên nghĩ đến người yêu lại càng thấy tủi thân, day dứt. Nàng đã không trọn lời thề, nay nàng đã không còn trọn vẹn, sao xứng với lòng Kim? Nó làm nổi bật bút pháp tinh tế của Nguyễn Du, thể hiện sự hiểu biết của tác giả về nhân vật của mình. Đồng thời làm nổi bật tài năng của tác giả ở khả năng miêu tả tâm lý tài hoa, tinh tế.

  • Luận điểm 4: Kiều trở về thực tại

Tám dòng cuối, Kiều trở về với thực tại, nơi thiên nhiên và tâm trạng đồng cảm:

“Buổi chiều nhìn cửa nát,

Một chiếc thuyền buồm ở xa?

Buồn khi thấy nước mới

Hoa bay về đâu?

Buồn thấy cỏ buồn,

Chân mây xanh đất xanh.

Thật buồn khi thấy gió thổi vào mặt tôi

Tiếng sóng vỗ quanh ghế”

Từ chỉ nỗi buồn của cô, ‘buồn trông’, giờ đã hòa vào nỗi buồn của thiên nhiên. Thiên nhiên không còn bình lặng mà dữ dội, “ầm ầm”, như báo trước những biến cố đang chờ đợi nó. Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình để nói lên nỗi cô đơn, tuyệt vọng của Kiều với số phận của mình.

Kết thúc

Phân tích bài Kiều ở lầu Ngưng Bích bằng nghệ thuật độc đáo và ngòi bút sáng tạo, Nguyễn Du đã khắc họa thành công nỗi nhớ nhung chân thành của Kiều đứng trước khung cảnh bao la, bất tận của thiên nhiên. Đồng thời thể hiện sự đồng cảm, xót xa của tác giả đối với số phận đầy sóng gió của con người trong xã hội bấy giờ.

>> Link: Phân tích đoạn văn “Chị em Thúy Kiều” của Nguyễn Du.

Bài viết cùng chủ đề: