29 lượt xem

Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Và Hành Động Của Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân | Thiennhan

ĐỀ BÀI: Phân tích diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị được nhà văn Tô Hoài thể hiện trong đoạn trích sau (Mị trong đêm tình mùa xuân) :

Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước, tai văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân đến, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.

Rượu tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết. Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy. Nhưng Mị không bước ra đường. Mị từ từ vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

BÀI LÀM

(Mở bài) Tô Hoài cùng với Nam Cao, Kim Lân, đều là những nhà văn hiện thực nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam hiện đại, để lại nhiều những tác phẩm có giá trị nhân văn, phản ánh hiện thực xã hội một cách khách quan và nhiều xúc cảm, đau đớn, xót xa, thương cảm, yêu thương.. Nếu như bản thân Nam Cao hay Kim Lân cả trước và sau cách mạng đều tập trung vào đề tài người nông dân, trí thức tiểu tư sản vùng đồng bằng Bắc Bộ, thì Tô Hoài lại được xem là nhà văn hiện thực của vùng miền núi phía Bắc nước ta, bằng một tấm lòng thiết tha, gắn bó, ngòi bút cảm thông sâu sắc với số phận của những con người khốn khổ chịu sự áp bức, bóc lột của cả cường quyền và thần quyền phong kiến tàn ác. Một trong những tác phẩm thành công nhất của Tô Hoài chính là Vợ chồng A Phủ. Đây vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức phong kiến và thực dân, vừa là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người. Vẻ đẹp ấy đã ngời lên thật trọn vẹn qua diễn biến tâm trạng Mị và sức sống tiềm tàng mãnh liệt qua từng hành động của nhân vật này qua đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu.. lửng lơ bay ngoài đường”.

(Giới thiệu chung) Năm 1952, trong chuyến hành trình theo chân bộ đội vào giải phóng Tây Bắc kéo dài 8 tháng, tác giả đã “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với đồng bào dân tộc nơi đây. Chính những kỉ niệm tại đây đã khơi dậy nên nguồn cảm hứng sáng tạo của Tô Hoài. Được biết đến là nhà văn có khả năng quan sát tinh tế, độc đáo, có biệt tài trong việc miêu tả phong tục tập quán ở các vùng miền. Đặc biệt ở ông người ta bắt gặp chủ nghĩa nhân văn đời thường, nói như Nguyễn Đăng Mạnh “Tô Hoài là nhà văn của người thường, của chuyện thường, của đời thường”, tuy “thường” nhưng lại vô cùng hóm hỉnh, sinh động ông đã cho ra đời tập Truyện Tây Bắc gồm ba truyện ngắn “Cứu đất cứu mường”, “Mường Giơn” và “Vợ chồng A Phủ” in năm 1953 như lời tri ân tới con người và mảnh đất nơi đây. Với “Vợ chồng A Phủ, đoạn trích trên nằm ở phần giữa của tác phẩm. Nhân vật Mị chính là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc có ý nghĩa khái quát cao, tiêu biểu cho cuộc sống đau khổ, tủi nhục của đồng bào miền núi Tây Bắc. Tác giả đã tập trung vào khắc hạot diễn biến tâm lý của nhân vật trong đêm tình mùa xuân với sức sống tiềm tàng mãnh liệt hệt như tinh thần của người dân nơi đây.

(Thân bài) Mị là người con gái nết na thùy mị, có những phẩm chất, tính cách tốt đẹp. Ở tuổi thanh xuân, cô có một tính cách phóng khoáng, tự do; một trái tim nồng nhiệt, căng tràn sức sống, khao khát yêu và được yêu tài. Mị cũng là một cô gái tài năng” thổi sáo giỏi “đi đường” nhặt chiếc lá đưa lên môi, thổi sáo lá hay như thổi sáo “. Những đêm tình mùa xuân, trai làng đến đứng nhẵn vách đầu buồng Mị. Cô chính là bông hoa ngát hương của núi rừng Tây Bắc, có một cuộc sống tự do, hạnh phúc, vô tư giữa tháng ngày tuổi trẻ. Hơn thế nữa Mị là người con hiếu thảo biết lo cho gia đình. Tưởng chừng sẽ có một cuộc đời hạnh phúc, tốt lành, yên ấm, nhưng không may thay Mị lại trở thành nạn nhân của cường quyền và thần quyền Tây Bắc. Chỉ vì món nợ truyền kiếp của gia đình và lần cúng trình ma nhà thống lí, Mị đã vĩnh viễn trở thành cô con dâu gạt nợ của gia đình Pá Tra, để từ đây cuộc sống của Mị hoàn toàn thay đổi.

Vốn là một cô gái tràn trề sức sống, Mị đã bị tước đoạt đi tự do, hạnh phúc cá nhân hết, cô mất hết ý chí về cuộc đời. Quãng đời Mị sống trong nhà thống lí là chuỗi dài những đọa đày, tủi nhục. Tuy danh nghĩa là con dâu nhà quan lớn nhưng thực chất Mị chỉ là đầy tớ, nô lệ, bị coi rẻ” Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ Mị tưởng mình là con trâu, mình cũng là con ngựa “. Đau khổ, cực nhục đã cướp mất tuổi xuân của Mị, biến cô thành kẻ nhẫn nhịn và cam chịu. Người ta đã tưởng đến độ con người phải bị áp bức, bị vắt kiệt bị giam cầm đến mức nào mới có thể có những suy nghĩ đớn đau đến nhường này. Lúc mới bị bắt về, Mị phản ứng quyết liệt, định ăn lá ngón tự tử, nhưng rồi thương xót cha già, Mị không đành lòng chết. Đời Mị cứ thế lặng lẽ trôi đi. Cuộc sống không còn ý nghĩa. Cô sống mà như đã chết. Đau khổ triền miên đã làm cho Mị hóa thờ ơ, lạnh lùng, cô ngày càng ít nói” lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa “. Mọi cảm xúc trong cô dường như đã chai lì. Và cái khổ nó đã làm biến dạng cả tâm hồn, ngoại hình Mị, đầu óc cô không nghĩ việc gì khác ngoài những việc làm lụng, dù làm gì cũng cúi mặt, buồn rười rượi, lại ngày càng chẳng nói năng gì, dường như Mị quên đi cả khả năng giao tiếp của mình. Tuy nhiên, khát vọng sống trong Mị chưa hoàn toàn lụi tắt. Trong Mị luôn tồn tại hai con người tưởng chừng đối lập: Con người bên ngoài lạnh lùng vô cảm và con người bên trong có sức sống âm thầm nhưng mãnh liệt.

Tưởng chừng Mị sẽ chết tàn chết rụi trong căn buồng u tối chỉ có một lỗ cửa vuông bằng bàn tay, ngày hay đêm chỉ thấy một màu trăng trắng mờ đục không biết là sương hay là nắng. Một cảnh tối tăm địa ngục, không có ý định giải thoát cho chính mình. Số phận bi thảm của Mị là số phận điển hình tiêu biểu cho hàng vạn người con gái nghèo miền núi trước cách mạng tháng Tám.

Bằng cảm quan nhân đạo và tấm lòng yêu thương đồng cảm với số phận con người, Tô Hoài đã mang đến cho người đọc những thước phim quay chậm về sự bừng lên của một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt đang âm ỉ cháy trong con người Mị. Bên ngoài là một cô Mị lầm lũi như cái bóng, như đã chết nhưng bên trong lại ẩn chứa lòng ham sống. Sức sống ấy không hề tiêu tan trong tâm hồn đã chai sạn vì quá đau khổ mà nó chỉ tạm thời lắng xuống, như một ngọn lửa nhỏ nằm dưới đám tro tàn chờ cơ hội bùng lên mạnh mẽ. Vô tình cơn gió của đêm tình mùa xuân đã làm hồi sinh con người Mị, thức dậy cả một kí ức tươi đẹp và trỗi dậy một sức sống, lòng ham sống đến cuồng nhiệt nhưng cũng đầy bi kịch. Đoạn trích nằm ở phần giữa của văn bản, đã miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm xuân với những tình tiết chân thực và cảm động thể hiện rõ sức sống mãnh liệt cùng khao khát tình yêu cháy bỏng của người con gái xinh đẹp mà bất hạnh.

Đầu tiên là sự thay đổi bên ngoài. Năm ấy mùa xuân về sớm hơn mọi năm. Tô Hoài mô tả những làn gió đem mùa xuân về trên khắp các bản làng, người ta đang nô nức, hào hứng chuẩn bị đón Tết, phụ nữ phơi váy hoa khắp nơi, đám trẻ nô đùa chơi quay, và có tiếng sáo ai rủ bạn đi chơi thấp thoáng. Sức sống tưng bừng của vạn vật mùa xuân đã làm cho tâm hồn Mị hồi sinh. Tất cả những hình ảnh này đã dội vào tâm hồn Mị – 1 tâm hồn khô cằn, nó làm cho sức sống của Mị bắt đầu có sự vận động, nó chẳng khác nào những nốt nhạc đầu tiên của bản nhạc tình ca thay đổi lớn sắp diễn ra trong lòng người đàn bà đã và đang phải chịu quá nhiều đau khổ.

Ngày Tết người ta uống rượu, Mị cũng uống” uống ừng ực từng bát “. Cách uống khiến người đọc phải ngạc nhiên nhưng cũng không cảm thấy vô lí, bởi sau bao tháng ngày đau đớn, tủi nhục, giờ là lúc Mị được sống lại với chính con người mình. Uống như thể quên đi phần đời cay đắng, trút hết những uất ức, thống khổ trong lòng một cách thống khoái, mạnh mẽ, vừa qua để sống lại mạnh mẽ phần đời tuổi trẻ đã có. Men rượi đã làm Mị quên đi thực tại khổ đau của mình, đưa Mị về với những ngày thành xuân khi quá khứ còn tươi đẹp, những ngày được tự do vui sống trong hạnh phúc, được cất tiếng hát trong trẻo yêu thương, được biết bao người con trai đem lòng yêu mến. Đó là những ngày rực rỡ Mị được sống với chính mình. Càng say, bao nỗi đớn đau trong Mị dần quên đi, Mị uống hết tất thảy những tủi hờn đắng cay mà bấy lâu đang chịu đựng, quá khứ đẹp đẽ thôi thúc Mị hành động, trong Mị ngập tràn một sức sống mới, nổi loạn hơn, rạo rực hơn. Trong Mị lúc này, nội tâm đang ngập tràn mâu thuẫn, những sự giằng xé giữa quá khứ và hiện tại, quay quắt giữa thực tại tù túng, khốn cùng và khát khao sống tự do, khát khao hạnh phúc chân chính của đời mình.

Thế rồi Mị lặng người nhìn người ta nhảy múa vui chơi, Mị lại nhớ về những ngày còn ở với cha mẹ, Mị cũng có những ngày tháng tươi đẹp như thế. Mị chợt nhớ mình còn biết thổi sáo, thổi lá cũng rất hay. Mị uống rượu và thổi sáo, Mị tận hưởng cuộc sống, tự tạo dựng lại cho mình những niềm vui ngày xuân để quên đi cái sầu khổ, đớn đau suốt mấy năm qua của mình. Tâm hồn Mị dần dần sống lại một cách chậm rãi, Mị bắt đầu ý thức được mình còn trẻ trung, vẫn còn khao khát những niềm vui của cuộc sống.

Mị muốn đi chơi, khao khát được sống được tự do nhưng Mị lại không bước ra ngoài đường chơi mà lại từ từ bước vào buồng, ngồi trên giường mà nhìn ra cái cửa sổ vuông – ngục giam tâm hồn Mị. Lúc này trong tâm hồn Mị có một diễn biến rất phức tạp, có sự đấu tranh quyết liệt giữa một bên là sức sống mãnh liệt, khát khao hạnh phúc và một bên là hiện thực cuộc sống, là mặc cảm về thân phận. Nhưng lòng Mị chợt phơi phới trở lại. Lần đầu tiên sau những tháng ngày mất hết ý niệm về thời gian, không gian, Mị cảm thấy mình còn trẻ” Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi “. Nhưng ngay sau đó diễn biến tâm lí và hành động của Mị lại đầy mâu thuẫn. Lòng ham sống trong Mị đã trỗi dậy, khát vọng hạnh phúc thuở nào bừng tỉnh. Mị ý thức rất rõ quyền được sống, được đi chơi ngày Tết của mình như bao người phụ nữ có chồng khác. Như một lẽ tự nhiên, khi ý thức sống đã trỗi dậy thì cũng là lúc Mị cảm thấy rõ hơn cái vô lý của cuộc sống thực tại. Nếu trước đây, Mị quen khổ đến mức chai sạn, không còn tưởng đến việc ăn lá ngón tự tử thì giờ đây” Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa “. Đây là lần thứ hai Mị có ý định tự tử. Lần thứ nhất là khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ, hành động ăn lá ngón là cách giải thoát duy nhất cuộc đời nô lệ của Mị. Còn lần này, tuy bây giờ có vẻ tiêu cực nhưng thực chất đó là sự phản kháng với hoàn cảnh, là sự xung đột gay gắt giữa một bên là khát vọng sống chân chính với một bên là thực tại đau đớn đang hiện hữu.

Tiếng sáo làm Mị trở nên mạnh mẽ hơn, nó là tác nhân đã lay động sâu xa tâm hồn Mị và đánh thức quá khứ cùng hiện tại của Mị. Tiếng sáo là một ẩn dụ cho tự do, cho tuổi trẻ và ký ức đẹp tươi của cô gái trẻ người Mèo. Đồng thời, đây cũng chính là men tình đã đánh thức tâm hồn và lý trí của Mị. Mị tìm đến rượu, nhưng không phải để tìm vui mà là để giải sầu. Sự bất bình thường ấy đã nói lên tất cả. Sức chịu đựng có hạn, đã đến lúc cần bùng cháy. Rượu và tiếng sáo chính là chất men say đánh thức phần đời đã mất của Mị, giờ đây Mị không còn lặng câm nữa mà đã hồi sinh. Mị đang sống về ngày trước và không gì có thể ngăn được niềm vui sướng của Mị” lòng Mị đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước “. Còn gì hạnh phúc bằng khi mình tìm lại được chính mình? Tô Hoài đã thâm nhập vào mê cung tâm trạng của người phụ nữ này và bằng lòng cảm thông yêu thương sâu sắc, nhà văn đã làm người đọc thực sự xúc động trước những biến đổi về tâm lý của Mị. Con rùa nuôi trong xó cửa ấy đã không còn lùi lũi nữa rồi. Nó đã phá vỡ cái bức tường vô cảm kia để khát khao tìm ra thiên đường mùa xuân của tuổi trẻ, của hạnh phúc. Mị nhận thức được chính mình, đó chính là ý thức về tuổi trẻ. Còn trẻ nghĩa là còn sức sống, còn khao khát sống, còn muốn yêu thương. Đúng là một cảm xúc bi kịch: Nhận ra mình còn trẻ khi mà tuổi xuân bị tước đoạt rồi và sống trong hoàn cảnh đáng thương này thì đúng là bi kịch. Nhưng dù đó là bi kịch thì Mị vẫn vui sướng vì dù sao Mị vẫn còn là chính mình với trái tim đầy khát vọng.

Cái quen khổ của Mị có cái gì đó tương đồng với việc quen bóng tối ngõ huyện ở Liên và An. Cả hai tác phẩm đều hướng tới phản ánh cuôc sống vất vả, tối tăm của người lao động trong xã hội cũ. Đồng thời quan đó, thể hiện thái độ thương cảm, trân trọng của nhà văn với những ước mơ, niềm khát vọng của con người. Một phần nào là thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam và Tô Hoài. Nếu trong truyện ngắn” Hai đứa trẻ “, Thạch Lam thể hiện cái nhìn xót thương cho cuộc đời số phận quẩn quanh, tối tăm và bế tắc của những người dân nơi phố huyện nghèo – những con người không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, sống mòn mỏi trong nỗi buồn chán và sự vô nghĩa đến ước mơ cũng chỉ là chờ một chuyến tàu đêm đi qua. Thì Tô Hoài với” Vợ chồng A Phủ”lại là khẳng định bằng sức sống mãnh liệt những người lao động như Mị đã tự giải phóng mình khỏi cuộc sống tối tăm để hướng đến cuộc sống và tương lai tốt đẹp đó là con đường đến với cách mạng. Đây cũng chính là nét hiện thực mới, cũng là nhân đạo mới của văn học 1945 – 1975 so với văn học 1930 – 1945.

(Đánh giá chung 1) Có điểm tương đồng nào đó với Chí Phèo của Nam Cao tuy nhiên ở nhân vật Mị khát vọng sống và niềm khao khát hạnh phúc vẫn tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn Mị. Nó như ngọn lửa vẫn âm ỉ cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh. Và chỉ cần một cơn gió mát lạnh có thể thổi bùng. Qua đêm tình mùa xuân, Tô Hoài đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc khi không chỉ lên án, phê phán mạnh mẽ giai cấp thống trị miền núi mà còn phát hiện, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý, nghệ thuật kể chuyện, ngôn ngữ tự nhiên giản dị đã góp phần làm nên thành công cho đoạn trích.

(Đánh giá chung 2) Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý và phát triển tích cách nhân vật đặc sắc, ít tả hành động mà chủ yếu là khắc họa tâm tư. Giọng kể có lúc hòa vào dòng tâm tư của nhân vật. Ngôn ngữ tự nhiên, sinh động, giàu tính biểu cảm và giọng điệu tha thiết. Tô Hoài đã khắc họa lại rõ nét tâm trạng và hành động của Mị trong đoạn trích, nhưng đồng thời cũng làm nổi bật lên giá trị nhân đạo của tác phẩm.. Nhà văn không chỉ bộc lộ thái độ đồng cảm, xót thương với số phận khổ đau của nhân vật Mị dưới áp áp bức của giai cấp thống trị miền núi mà còn phát hiện, trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của Mị đó chính là sức sống tiềm tàng như ngọn lửa ấn dưới lớp tro tàn chỉ chờ gió để được thổi bùng lên.

(Kết bài 1) Đoạn trích nói riêng và tác phẩm Vợ chồng A Phủ nói chung là minh chứng rõ nét cho tài năng sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài. Bao nhiêu năm đã trôi qua nhưng cô Mị với sức sống tiềm tàng, vẫn neo đậu mãi trong tâm trí của độc giả. Tác phẩm như một thông điệp mạnh mẽ về tinh thần lạc quan, về nghị lực sống, nghị lực vươn lên, đấu tranh với những độc ác, bất công để tìm lấy hạnh phúc, tự do cho cuộc sống chính mình.

(Kết bài 2) Vợ chồng A Phủ nói chung và nhân vật Mị nói riêng chính là tấm lòng yêu thương, thông cảm, trân trọng của Tôi Hoài đối với những người con miền núi, những con người dù phải chịu nhiều những đắng cay chèn ép của thần quyền và hủ tục khắc nghiệt. Thế nhưng họ vẫn có một niềm tin, khao khát sống mãnh liệt, sức phản kháng tiềm tàng mạnh mẽ, sẵn sàng đứng lên tự giải thoát cho bản thân, giành lại quyền mưu cầu hạnh phúc và tự do của bản thân.

NOTE: Có thể lựa chọn cách đánh giá chung hoặc kết bài tùy theo ý thích của bản thân.

 

Bài viết cùng chủ đề: