Như nhà phê bình văn học Hegel đã từng nói: “Thơ là nghệ thuật tổng hợp của tâm hồn, tự do, không bị ràng buộc bởi nhận thức cảm tính về đối tượng bên ngoài.

Đúng vậy, văn học chân chính phải “chín mùi của cảm xúc” (Xuân Đạiu), khi đọc mới thấy được cả thế giới tâm hồn, tình cảm của nhà văn. Một thứ văn chương, sau khi gấp lại, mà người ta vẫn còn xót xa mãi. Tự Tình II của Hồ Xuân Hoàng là một trong những kiểu viết như vậy. Nó khiến ta nghẹt thở trước những lời giãi bày cay đắng của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp và khát vọng sống của họ.

“Tiếng trống của lính gác đêm khuya vang vọng

Mặt hơi hồng với nước ngọt

Một nén hương mang lại tình yêu

Mặt trăng vẫn chưa tròn

Nghiêng tầng rêu thành từng bó

Phá bỏ chân mây và đá

Mùa xuân và mùa xuân lại chán

Mảnh ghép yêu thương chia sẻ một em bé bỏng “

Nửa đầu bài thơ là thời kì nghệ thuật “Cảnh khuya”, một thời kì thường gây đau thương. Trong những câu ca dao xưa, những làn sóng cảm xúc xao xuyến lòng người di cư trong đêm khuya thanh vắng:

“Làn đường đã dừng vào chiều hôm sau

Nhìn lại quê mẹ là một chiều đau ”.

Dịch theo chu kỳ thời gian qua văn học trung đại, có rất nhiều tác phẩm văn học xuất hiện trong thời kỳ này

“Chiều tà bóng hoàng hôn.

Tiếng ốc vang xa ”

(Bà Huyền Thân Kwan)

Buổi trưa dường như là lúc dòng cảm xúc bay lượn, những bước chân đêm tối chậm chạp, nặng trĩu, là lúc khiến lòng người trĩu nặng. Đã đến lúc tình nhân hoặc góa phụ phải trải qua nỗi bất hạnh cô đơn sâu sắc và đau đớn nhất. Từng hồi trống đánh xuôi, vòng xoay cứ thế trôi qua không chờ đợi tuổi thanh xuân của người phụ nữ khao khát hạnh phúc lứa đôi nhưng đã sớm chịu cảnh chung giường.

Tiếng trống lại “vang”, một thứ âm thanh rất yếu ớt, mờ ảo, vọng vào tâm hồn người phụ nữ từ xa. Thực ra, tiếng xa phải yếu ớt hay tâm hồn người đàn bà xao xuyến tìm kiếm một phù du phương xa nên tiếng trống mới yếu ớt, thoáng qua như làn gió nhẹ.

Khuôn mặt hồng hào là một cô gái xinh đẹp, nhưng “khuôn mặt đỏ hồng” lại khiến ta liên tưởng đến một vật vô tri vô giác. Cụm từ “mặt xấu”, trần trụi, thô ráp tạo nên hình bóng của một cô gái xinh đẹp nhưng tâm hồn quá khắc nghiệt với mọi tình cảm, cảm xúc. Đặt “mặt đỏ” bên cạnh “nước” ta đã thấy sự khác biệt giữa bên nhỏ, bên lớn, bên yếu và bên bao quát bốn phương.

Tuy nhiên, sự đối lập ở đây không làm lu mờ, làm lu mờ hình ảnh khuôn mặt ửng đỏ, mà ngược lại, khoét sâu thêm nỗi xót xa, mệt mỏi và cô đơn của lòng người. Bất chấp cơn hấp hối, cuộc đời của người đó tưởng chừng như hóa đá, nhưng không phải vậy.

“Một chén hương làm cho cơn say trở lại tỉnh táo

Trăng chưa tròn ”

Ngắm rượu để quên đi nỗi đau nhưng trớ trêu thay, càng uống, nỗi đau càng thấm, càng khắc sâu vào trái tim ngày càng yếu đuối. Đánh thức say, đánh thức say, lặp lại quá trình. Đời đàn bà chìm trong chuỗi ngày buồn tẻ với tâm trạng u uất. Bất giác tôi nhớ đến Thui Kiyu tội nghiệp, người cũng bị giam cầm trong chuỗi thời gian vô vị đó:

“Xấu hổ vào buổi sáng và đêm khuya.

Một nửa yêu thương, một nửa cảnh sẻ tấm lòng ”

Hai chàng trai ấy, hai thân phận khác nhau, nhưng cùng một số phận, cùng một hoàn cảnh, thật đáng thương biết bao. Hình ảnh “trăng mờ” có lẽ ẩn dụ hơn là thực. Vầng trăng tàn cũng là kiếp người đàn bà xế chiều. Vầng trăng thường gợi bao kỉ niệm, gợi sự ấm no, viên mãn của hạnh phúc lứa đôi, bao câu chuyện tình thắm thiết, thủy chung diễn ra dưới ánh trăng, nhờ trăng chứng minh:

“Trăng tròn trên bầu trời

Ding Ning có hai miệng và một từ cùng một lúc.

Nhưng giờ đây, ánh trăng sắp tàn cũng là lúc mối tình không trọn vẹn của người phụ nữ kết thúc … nhưng đó là Xuân Hoàng, người phụ nữ không bao giờ từ bỏ hoàn cảnh, luôn tìm cho mình một lối đi khác. Làm thế nào, rất khờ dại, rất xa lạ, gây ra nỗi đau và làm thế nào để che phủ tâm hồn? Trước sự đau đớn và cô đơn, nữ ca sĩ vẫn tin tưởng vào bản thân và tìm thấy sức mạnh lớn hơn để làm nguồn cảm hứng:

“Nghiêng đất rêu thành từng nhóm

Phá vỡ những đám mây và đá vài tảng đá. “

Đưa mắt nhìn mọi vật xung quanh, nhân vật văn học nhìn thấy “rêu thành từng đám” dựa trên mặt đất, “đá” xuyên qua đám mây. “Skewer, Pierce” là những động từ rất mạnh, và nghệ thuật đảo ngược rất tốn kém để thể hiện sức mạnh sinh tồn trong những điều nhỏ bé, đơn giản.

Màu xanh non của rêu nằm trên màu xám đất càng khẳng định tinh thần quật cường của rêu. Đó cũng là sự thể hiện khát vọng nhỏ nhoi nhưng rất tha thiết muốn thoát khỏi thế giới cô đơn, lẻ loi của xã hội đương thời là thời đại ngột ngạt.

Những tảng đá rắn chắc vắt vẻo giữa bầu trời bao la nhưng trống trải cũng đủ khiến khung cảnh trở nên sống động hơn bao giờ hết. Chỉ với hai bộ phim ngắn gọn, đơn giản, nữ nghệ sĩ đã đưa độc giả đi qua những nỗi cơ cực của những người phụ nữ để tôn vinh sức mạnh tinh thần và bản lĩnh của họ.

Đây là một trong những mô-típ tạo nên cái “ngông” trong thơ Hồ Xuân Hoàng. Nó tạo cho người đọc một ấn tượng mạnh mẽ, bất ngờ chỉ có ở những nữ sĩ độc nhất vô nhị của nền văn học Việt Nam. Hai câu thơ cuối là:

“Mùa xuân và mùa xuân lại chán

Một mảnh tình yêu để chia sẻ một chút

Nhưng dù mạnh mẽ và tự tin đến đâu, người phụ nữ vẫn không thể chối bỏ thực tế phũ phàng. Hai câu cuối bật ra như một tiếng thở dài chua xót, cay đắng, mệt mỏi của một kiếp bạc bẽo, bó buộc trong hai chữ vidhi. Tuổi trẻ – Sắc đẹp, hai thứ một khi đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại.

Mùa xuân của thiên nhiên đất trời dường như được lập trình để quay theo một vòng tuần hoàn bất tận, nhưng trớ trêu thay, thanh xuân của con người là có hạn, xuân năm trước có thể khác xuân năm ngoái. Chính vì vậy mà cứ mỗi mùa xuân đi qua, niềm vui, sự hồi sinh của đất trời ngày càng phai nhạt và cũ kỹ. Qua đó, chúng ta thấy được ý thức tự giác của mọi người khi còn trẻ và ý thức về giá trị của cuộc sống.

Đoạn tình là để bày tỏ một nỗi niềm nào đó, nhưng ở đây phải chia sẻ rằng cuối cùng chỉ còn lại một đứa con bé bỏng không đáng kể. Đọc đoạn thơ, ta thấy được tâm trạng đáng thương của người đàn bà tài hoa bạc mệnh Hồ Xuân Hoàng trong từng câu văn. Cuộc đời người phụ nữ là một chuỗi cay đắng tủi nhục, một cuộc đời đẫm nước mắt: hai lần đò ngang. Có lẽ Mr. General Tok, sau đó là Mr. Giành được Tùng, nhưng cả hai lần, người phụ nữ bất hạnh này đều không tìm được hạnh phúc hợp lý.

Nhưng ẩn sâu trong từng câu chữ là sự thất vọng, không phải đau đớn, không phải vì đó là Hồ Xuân Hoàng – một người phụ nữ mạnh mẽ, bản lĩnh, đủ bản lĩnh để đương đầu với hoàn cảnh hiện tại. Ta có thể thấy những tia hi vọng nhỏ nhoi nhưng rất mạnh mẽ và có cơ sở: nhà thơ vẫn muốn chia sẻ với thế giới một lời chào chân thành để lá bớt xanh, như vôi.

Thơ “Tự tình” thành công không chỉ về đề tài mà cả về phương diện nghệ thuật. Cách dùng từ của Hồ Xuân Hoàng rất giản dị, mang tính giao tiếp, táo bạo nhưng không kém phần tinh tế. Cách dùng từ góp phần tạo nên tính đa nghĩa cho tác phẩm: có lúc lúng túng, lúng túng, có lúc chạnh lòng, có lúc chua xót, buồn chán nhưng vẫn thể hiện được niềm lạc quan, hy vọng.

Ngoài ra, các tác giả còn sử dụng các thuật ngữ phụ như “Hồng nhan” – “nước non” hay phương pháp tiến bộ, v.v. Với những nét nghệ thuật đặc sắc ấy, Hồ Xuân Hoàng đã góp phần hoàn thiện nhất âm hưởng thơ. Văn học Trung đại Việt Nam.

Ngoài “Tự tình II”, Hồ Xuân Hoàng viết cho văn học trung đại “bánh trôi”, “cảnh gánh”, “mít ướt”,… mà còn về đề tài này. Cuối cùng, điều mà nữ sĩ muốn phản ánh là số phận, cuộc đời, tài năng và tính cách của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Ngoài ra, ngòi bút của bà đã thẳng tay vào bộ máy phong kiến ​​cổ hủ, lạc hậu, trói buộc quyền sống, quyền hạnh phúc của mỗi người phụ nữ với tính cách mạnh mẽ, ngổ ngáo với phong thái rắn rỏi, rắn rỏi, điều này một lần nữa làm nổi bật tác phẩm của Hồ Xuân Hoàng. Phong cách đặc sắc của văn học Việt Nam.