76 lượt xem

Top 6 Bài soạn Thuyết minh về một thể loại văn học (lớp 8) hay nhất | Thiennhan

I. Kiến thức cơ bản cần có

Thể loại văn học tự sự là một định nghĩa khó. Đó là bởi vì, để rút ra những hiểu biết quan trọng cho việc giải nghĩa, họ phải có một số kiến ​​thức về thơ: luật bằng – bát quái, vần, dấu, đếm, nhịp điệu, v.v. Như vậy, buổi biểu diễn của bạn mới có kết quả. Quy tắc bằng nhau – Bát quái, vần, thanh, phách, nhịp … là công cụ, dụng cụ để trẻ khám phá, lĩnh hội thơ ca nói chung và thơ ca tiếng Việt nói riêng.

Sử dụng công cụ trên, học sinh quan sát, khám phá và phát hiện ra những nét đặc sắc của hai bài thơ Cảm hứng trong ngục Quảng Đông và Đập đá ở Côn Lôn. Bạn sẽ thấy:

– Đây là dạng thơ bảy câu tám chữ (mỗi dòng bảy chữ, mỗi dòng thơ tám chữ).

– Nhịp thơ thường là 4/3:

Nắm tay / đối tác tài chính,

Mở miệng cười / ghét.

Thân còn đó, / còn nghề

Cho dù có bao nhiêu nguy hiểm / sợ hãi.

(Đến trại giam Quảng Đông để trải nghiệm)

Tháng bảo tồn / Cơ thể người sành sỏi,

Mưa nắng bền chặt nhất / Tấm lòng son sắt.

Thiên đường vá / Khi họ bỏ lỡ một bước,

/ Thật khó để nói chuyện con cái.

(Đập đá ở Côn Lôn)

Khi đọc một dòng thơ, sau một số từ, nghĩa nhất định, họ dừng lại một chút trước khi đọc hết dòng. Những quãng ngắt đó là những dòng của bài thơ.

– Biểu tượng của các thanh (sắc, hỏi, ngã, cân) T và các thanh bằng (ngang, sâu) B. Sự thay thế của bát quái trong hai bài thơ được cụ thể hoá như sau:

Hợp tác xã Quảng Đông là nơi giải trí tuyệt vời

T – B – B – T / – T – B – Hết

T – T – B – B / – T – T – B

T – T – B – B / – B – T – T

T – B – T – T / – T – B – Hết

T – B – B – T / – B – B – T

T – T – B – B / – T – T – B

B – T – T – B / – B – T – T

B – b – b – t / – t – b – b

Đập đá ở Conlon

B – B – T – T / – T – B – Hết

B – T – B – B / – T – B – Hết

T – T – T – B / – B – T – T

B – B – T – T / – T – B – Hết

T – B – B – T / – B – B – T

B – T – B – B / – T – T – B

T – T – T – B / – B – T – T

B – B – B – T / – T – B – Hết

Dựa vào phép quay B – T này, em có thể tìm ý nghĩa và sự tương phản trong bài thơ:

– dấu (dính vào nhau): âm của dòng trên và âm tương ứng của dòng dưới B. Ví dụ:

Giống như một người đàn ông đứng giữa Côn Lôn,

Những ngọn núi hùng vĩ tạo nên tuyết rơi.

(Làm / Giải thích: Niêm phong cùng nhau)

– Đối: âm của dòng B ở trên và âm tương ứng của dòng T ở dưới. Chẳng hạn, trong hai dòng thơ trên, người con trai / hướng về nhau.

II. Hướng dẫn học bài

Trích dẫn viết bài bình luận thơ tám chữ.

Bởi các nhà thơ nữ

a) Thơ Đường luật có những quy tắc rất nghiêm ngặt (tức là kiểm soát sự đồng hóa và kiểm tra trong từng câu, từng bài). Nếu âm tiết thứ hai của câu đầu tiên có một nguyên âm bằng nhau, thì câu thơ có dạng một phương trình và âm tiết thứ hai là hình tam giác.

Bán tại:

– Dưới dạng: tiếng bom hú.

– Hình học: Bản chất gây ra chi phí nhà hát

Cơ thể được coi là cơ thể chính và cơ thể tương đương là sự khác biệt.

B) Các câu trong bài dính vào nhau thì gọi là câu trần. Văn bằng và Bằng cấp, Kiểm tra và Điểm theo hệ thống như sau:

  • Câu thơ ngôn ngữ thứ hai Tôi đã bao gồm câu ngôn ngữ thứ hai VIII.
  • Tiếng thứ hai của câu II được khép lại bằng tiếng thứ hai của câu III.
  • Tiếng thứ hai của câu IV được phủ bằng tiếng thứ hai của câu V.
  • Tiếng thứ hai của câu VI được phủ bằng tiếng thứ hai của câu VII.

Tóm lại: thứ nhất – bát, thứ hai – tom, bốn – năm, lục – đó.

c) Thơ Đường luật bảy chữ sử dụng vần bằng và chỉ phát âm một âm tiết (doc-tra), nói chung là thơ bốn câu (tứ tuyệt) ba âm tiết, thơ tám câu (bát cú) năm âm tiết. .

– Các trường hợp ngoại lệ đối với luật bình đẳng (gọi là luật không phân biệt):

Từ đầu tiên trong câu, từ thứ ba hoặc từ thứ năm không được tính bằng bộ ba thì vẫn không bị coi là thất luật.

– Ngoại lệ về cách thoát vần:

Muốn tránh vần thì hai câu thoát vần (tức là hai câu đầu) phải đối nhau (gọi là song thất lục bát).

Bán tại:

Bỏ qua đôi mắt trắng của cuộc đời, phải không

Mái đầu xanh của Muduka …

Bài ca dao thần phải có sáu câu đối lập.

d) Dưới đây là bảng luật, vần (có đoạn trừ) của thơ Đường luật.

– Tám con cú bị mất ngôn ngữ cơ thể.

Ví dụ: thông qua sự biến đổi

Bước vào bóng xế, đèo Ngông,

Cây Chen đá, cây Chen hoa.

Leo xuống núi, thưởng thức mấy chú,

Chợ quê ven sông thưa thớt nào đó.

Mất nước thì khổ.

Miệng kinh nên bế tắc mệt mỏi.

Dừng lại, dừng lại, bầu trời, núi, nước,

Mảnh của tôi với hoàn cảnh của riêng tôi.

(Bà Huyền Thân Kwan)

– Tám trong số bảy từ có thể là cú:

Ví dụ: Bộ sưu tập

Nước ao lạnh được lưu trữ hoàn toàn,

Một chiếc thuyền đánh cá nhỏ bị thoái hóa.

Sóng xanh theo những con sóng nhỏ,

Những chiếc lá vàng treo chầm chậm trong không trung.

Mây trôi trên bầu trời xanh,

Máng tre quanh co vắng bóng người.

Không thể rời xa chăn gối trong một thời gian dài,

Nơi cá di chuyển bên dưới chân vịt.

(Nguyên Queen)

Về thiết kế, bài thơ Ngày tận thế có bốn phần (đề, sự, luận, kết):

+ Chứa câu ngắt chủ ngữ, chủ ngữ. Đây là phần mở đầu, tạo không khí cho cả buổi học.

+ Chân lý gồm hai câu III và IV đối nhau. Đây là phần phát triển các ý từ câu văn, chẳng hạn như minh họa cảnh, diễn giải sự vật, diễn giải ý tưởng, chuẩn bị cho bài văn, hoặc có những ý tưởng tiềm ẩn trong đó.

+ Văn nghị luận V và VI gồm hai câu trái nghĩa, có chức năng bình luận, bình luận, thường phát triển từ ý trong hai câu thực và đôi khi nhầm lẫn với hai câu thực.

+ Kết bài VII và VIII gồm hai câu có nhiệm vụ kết bài nhưng tựu chung lại là những lời khuyên, mở ra một ý mới sẽ khiến người đọc cảm thấy khó chịu, …

Lưu ý: Dấu câu trong đoạn thơ bảy chữ Đường luật ở dạng 4/3 hoặc 2/2/3 tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, uyển chuyển. Thể thơ bảy chữ truyền thống được ngắt thành nhịp 3/4 hoặc 3/2/2, kết hợp với lối gieo vần xen lẫn cả trắc và phách, cả nhịp chân và nhịp sau tạo nên nhịp thơ mạnh mẽ.

(Đinh Trọng Lạc, Tiếng Việt 11, SGV, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000).

III. Hướng dẫn đào tạo

1. Lập dàn ý nêu đặc điểm của truyện ngắn (dựa vào các truyện ngắn đã học: Tôi đi học, Lão tặc, Chiếc lá lạc).

A) Mở bài

Đưa ra định nghĩa truyện ngắn:

Ví dụ: “Truyện ngắn là hình thức tự sự ngắn … tập trung vào việc xác định một tình huống cụ thể trong một sự việc, hành động, đời sống của nhân vật, thể hiện một khía cạnh nhân cách hoặc một mặt nào đó của đời sống xã hội.”

B) cơ thể

Nêu những nét chính của truyện ngắn:

– Tính năng Khả năng: Số lượng trang viết ít, không dài.

Hãy chỉ ra đặc điểm này trong ba truyện ngắn: Tôi Đi Học, Lão Hạc và Chiếc lá lạc.

– Sự kiện và đặc điểm của nhân vật: Một số nhân vật và sự việc vì khối lượng truyện ngắn không lớn. Thông thường đó chỉ là một hoặc hai nhân vật với một số sự cố nhỏ.

Mình đi học để xem rõ hơn và cụ thể hơn về việc này, phân tích bài Lão hack, Chiếc lá đã mất.

– Tính năng cốt truyện:

Xảy ra trong không gian và thời gian hẹp.

+ Không kể hết quá trình sống của con người mà chỉ cần chọn thời điểm, thời điểm, thời điểm cụ thể để trình bày.

Tiếp tục phân tích ba tác phẩm trên.

– Nghĩa:

Vì truyện ngắn, dung lượng không cao nhưng ý nghĩa xã hội của truyện ngắn không tăng. Có những câu chuyện có độ dài ngắn hơn nhưng ý nghĩa xã hội sâu sắc hơn.

Hãy chỉ ra ý nghĩa xã hội to lớn của ba tác phẩm Tôi đi học là Lão tặc và Chiếc lá lạc quyên.

C) Kết luận

Bày tỏ cảm xúc của bạn:

– về vẻ đẹp, về sức hấp dẫn của truyện ngắn.

– Phù hợp với cuộc sống công việc khẩn cấp trong giai đoạn hiện nay.